Coverimage default 01

GioiDinhHue Nguyen Bao

Khoa học lý giải tại sao bạn nghĩ mình giỏi hơn người

Các nhà khoa học đã tìm ra  lý do khiến nhiều người luôn cho mình giỏi hơn người khác ở một khía cạnh nào đó trong cuộc sống...Mọi người trên Trái đất đều có khả năng nhất định, điều này làm nên nét riêng của mỗi cá nhân. Có người mạnh về thể chất, nhưng khả năng nhìn nhận sự việc lại chưa thực sự tốt. Người khác mang trên mình một sự tập trung cao, chăm chỉ, nhưng lại kém nhiệt huyết.Tuy nhiên,  hầu hết trong chúng ta đều không nghĩ thế. Chúng ta cho rằng, ở tất cả mọi lĩnh vực, mình có thể không đứng nhất nhưng chắc chắn giỏi hơn nhiều người. Hội chứng này được khoa học gọi là  “ảo giác ưu thế”- the illusion of superiority , hay có thể gọi vui là“ảo tưởng sức mạnh”.  Hãy cùng khám phá hiện tượng này thông qua thông tin từ trang Io9 dưới đây.1. Tâm niệm bản thân luôn tài năngCác nhà khoa học Mỹ đã tiến hành một cuộc thử nghiệm nhỏ, trong đó, họ yêu cầu những người lái xe tự đánh giá khả năng của mình và so sánh với người đồng nghiệp. Kết quả là 93% số người được hỏi tự tin trả lời  “kỹ năng của tôi cực tốt, tốt hơn đồng nghiệp và đương nhiên vượt mức trung bình”.Tuy vậy, kết quả  “trên mức trung bình, cực tốt” này chưa thực sự chính xác bởi nó  không dựa vào tiêu chuẩn nào mà chỉ đơn giản là so sánh bản thân với người khác.Một cuộc khảo sát với 20 nhân viên công ty phần mềm máy tính cũng đưa ra kết quả tương tự, 1/3 số người được hỏi nói rằng, trình độ của họ hơn tất cả và chỉ thua một người.Kết quả của những  cuộc khảo sát này chỉ ra, con người ta không nghĩ mình  “đỉnh nhất”, nhưng luôn có xu hướng cho rằng, mình thuộc  “top trên”. Và với việc thuộc  “top trên” trong tất cả lĩnh vực sẽ khiến ta  tự huyễn hoặc bản thân mình trở nên khác biệt và tài năng.2. Con người có (hoặc ảo tưởng có) một trái tim thuần khiếtTrước khi đọc phần này, hãy thử trả lời câu hỏi: Cuốn sách “thực sự hay” gần nhất bạn đọc là gì? Và lý do khiến bạn đọc nó?Hầu hết mọi người sẽ trả lời  “Tôi thích đọc sách”, hoặc  “Vì tôi thích tác giả này”, hay  “Tôi muốn tìm hiểu thêm”… Tuy nhiên, cũng vấn đề này, những nhà nghiên cứu yêu cầu tình nguyện viên dự đoán lý do khiến một người lạ đọc sách thì kết quả thường là những điều không được đánh giá cao như  “theo thị hiếu”, “sắp có phim dựa theo tác phẩm này”…Hội chứng này được gọi là  “thiên vị động cơ ngoại sinh” - extrinsic incentives bias . Đây là hội chứng con người ta quy kết “động lực” của người khác là do bên ngoài tác động, thay vì động cơ có sẵn bên trong.Một nghiên cứu đã chứng   “ham học hỏi”, hay làm việc hăng say xuất phát từ lòng đam mê.Có thể những lý do này là đúng, nhưng bên cạnh đó, con người ta cũng hạ thấp mục tiêu và động lực của những người xung quanh. Họ cho rằng, người khác làm việc vì lương cao, đọc sách theo thị hiếu… hoặc nếu có làm tốt thì cũng là do hoàn cảnh bên ngoài giúp sức. Với ý nghĩ như vậy thì hiển nhiên,  mọi người đều cho mình là “người đặc biệt” và có tài hơn người.3. Bản năng của con ngườiCác nhà khoa học đặt ra câu hỏi rằng, liệu chúng  ta có chấp nhận thay đổi khi nhận ra việc mình luôn huyễn hoặc, ảo tưởng cho mình là nhất, tự thuyết phục bản thân mình làm việc tốt hơn người khác?Sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học khẳng định,  sự thay đổi này dường như là không thể bởi con người dù ít nhiều cũng luôn tự tin vào bản thân. Chúng ta khó có thể thay đổi khi nghĩ mình chỉ thuộc nhóm dưới, luôn thuộc hàng thấp kém. Cùng với đó, hiện tượng “ảo giác về sự hiểu biết bất cân xứng” - the illusion of asymmetric insight  hiện hữu trong mỗi chúng ta.Hiện tượng này cho rằng, chúng ta có thể nhận ra sự ảo tưởng về kỹ năng, giá trị của người xung quanh nhưng với bản thân thì luôn chối bỏ. Con người có xu hướng không tự thừa nhận mình vô tâm, lười biếng, xấu tính hoặc ít ra "không phải kẻ xấu tính, vô tâm lười biếng nhất" mà còn rất nhiều người khác lười hơn mình.  Và thậm chí, có những người chỉ luôn cho rằng mình đúng, còn những người khác thì sai

http://www.khoahoc.com.vn/khampha/kham-pha/50954_khoa-hoc-ly-giai-tai-sao-ban-nghi-

0 people like this

Nhẫn nhục

[B]Trên con đường tu đạo chúng ta sẽ gặp rất nhiều thử thách[/B], nhưng trước khi nói về những chông gai trắc trở mà chúng ta có thể sẽ đối diện, chúng ta hãy quay về khoảng 2500 năm trước đây khi Đức Phật quyết định xuất gia xả thân cầu đạo, thì Ngài phải đương đầu với không biết bao nhiêu là trở ngại. [B]Ngài bắt đầu tu thiền rồi cũng không đạt được những điều Ngài muốn, nếu không kiên nhẫn thì Ngài đã bỏ cuộc[/B]. Ngài tiếp tục tu theo lối khổ hạnh, hành thân hoại thể trong sáu năm trời cũng không đem lại  kết quả thích đáng nào.Thử hỏi ở trường họp của một người thường, chúng ta có còn đủ kiên nhẫn để tiếp tục con đường mà chúng ta muốn đi đến nữa không? Sau đó, Ngài tham thiền nhập định trong suốt 49 ngày trước khi Ngài chứng quả Bồ-đề. [B]Sự thành công của Đức Phật không phải là một sự tự nhiên [/B]mà có, nhưng[B] đây là một thử thách cực độ đức tính kiên nhẫn của một vĩ nhân khi muốn đạt được một chân lý tối thượng [/B]để giải thoát cho nhân loại thoát khỏi cảnh sinh tử khổ đau.Khi [B]đã hiểu sự kiên nhẫn đưa đến thành công lớn như thế, thì chúng ta tự hỏi nhẫn nhục có ý nghĩa gì?[/B]Nhẫn có nghĩa là [B]nhịn, chịu đựng những cảnh trái mắt, nghịch lòng.[/B]Nhục[B] là điều sĩ nhục, điều xấu hổ, làm tổn thương đến lòng tự ái [/B]của mình.Nhưng trong[B] kinh Phạn không có chữ “nhục”, mà chữ nhục ở đây là do những vị Đại sư khi họ dịch kinh điển từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa[/B] mà ra. Họ đã ghép thêm chữ nhục vào cho nó thêm ý nghĩa. Tại sao mà họ làm vậy?Chúng ta còn nhớ trước [B]khi Đạo Phật du nhập vào Trung quốc, thì Đạo Khổng đã phát triển rộng rãi trong xã hội này. Đức Khổng Tử đã lấy Hiếu, Để, Trung,Thư làm gốc và lấy sự sửa mình làm căn bản để mà dạy người. Bởi vậy, người Trung quốc có câu:”Sĩ khả sát, bất khả nhục”, có nghĩa là người trí thức thà chết chứ không chịu nhục.[/B] Quý vị thử nghĩ rằng: “thà chết vinh còn hơn sống nhục” thì cái giá trị của[B] chữ “nhục” còn nặng hơn cái chết.[/B]Bởi vậy, khi dịch kinh sách thì những vị Đại sư ngày xưa đã ghép hai chữ này lại với nhau cho ý nghĩa của nó thật sâu sắc để chúng sinh ngẩm nghĩ mà tu hành.Vậy[B] nhẫn nhục là chịu nhục đến chỗ tột cùng không còn ai có thể nhẫn nhục hơn thế nữa.[/B]Nói [B]như thế thì người tu Phật tại sao lại cần phải nhẫn nhục?[/B]Con đường tu đạo mà [B]muốn đạt thành viên mãn thì không phải là dễ, chẳng hạn như tu thiền không thể nào một sớm một chiều[/B] mà đạt được”minh tâm kiến tánh”, và niệm Phật cũng cần thời gian mới đạt được “nhất tâm bất loạn”. Nhưng trên [B]đời này chúng ta nhẫn cái mà người khác không nhẫn được thì mới thành công[/B] được.[B] Muốn thành công nhỏ thì nhẫn nhỏ, nhưng nếu muốn thành công lớn thì chúng ta cần phải nhẫn nhiều hơn. Hơn thế nữa, cổ nhân cũng có câu:”Tiểu bất nhẫn, bất thành đại sự”, có nghĩa là việc nhỏ mà mình không thể nhẫn nhục được, thì việc lớn không mong chi thành công.[/B]Chúng ta [B]hằng ngày phải đương đầu với rất nhiều cảnh trái tai gai mắt[/B], đó là [B]chưa kể người đời thì ăn ngược nói ngạo, gian tham quỷ quyệt, thay trắng đổi đen[/B]. Nếu  [B]không có tâm  nhẫn nhục thì Tham, Sân, Si sẽ nỗi dậy khiến cho Thân, Khẩu, Ý của chúng ta  vọng động và từ đó chúng ta sẽ tạo cho mình những ác nghiệp mà có thể làm trở ngại cho việc vãng sinh sau này.[/B] Khi đối diện với nghịch cảnh, chúng ta nên nhớ rằng tất cả mọi việc trên thế gian này đều là vô thường, ngay cả chính cái bản thân của chúng ta cũng vậy, thì dầu cho chúng ta có tranh dành, chiếm đoạt, đánh đập, hay sĩ vả người khác cũng chẳng có ích lợi gì.Nói như thế không phải chúng ta chọn con đường nhu nhược để sống. Mà con đường chúng ta đi là con đường nhân đạo dựa trên căn bản thêm bạn bớt thù và lấy phương châm là tạo hạnh phúc cho người tức là tự tạo hạnh phúc cho chính mình vậy. Nếu có người chửi mắng mình, thì mình phải bình tỉnh tự nghĩ rằng: Ta có làm gì sai quấy không? Nếu có thì họ sĩ nhục ta là thích đáng rồi, ta không nên cải lại mà chỉ cám ơn họ thôi. Còn nếu ta trong trắng, thì những lời chửi mắng kia đâu có dính líu gì với ta đâu mà phải bận tâm! Ta nhẫn nhục là vì ta có lòng Từ Bi Hỷ Xã, thương người, và không muốn làm người phải đau thương.[B]Nhẫn nhục của lòng từ bi thì khác hẳn với nhẫn nhục do tham vọng, sân si, ái dục thúc đẩy[/B]. Bởi vì những nhẫn nhục do ái dục sinh ra, thì họ cố cắn răng chịu nhục một thời, rồi sau đó sẽ tìm phương hại người để trả thù. Đây là đại ác.  Khi nói về chuyện nhẫn nhục để trả thù thì trong truyện Đông Châu Liệt Quốc vào khoảng năm 26 đời Châu Kinh Vương, tức là cùng một thời với Đức Khổng Tử tại nước Lổ, giữa vua Việt là Câu Tiển và vua Ngô là Phù Sai.Quý vị còn nhớ là Ngủ Tử Tư vì chạy trốn vua Sở Bình Vương đã giết hại toàn gia đình của mình, phải nghĩ cách trốn qua ải, chỉ một đêm mà đầu bạc phơ. Sau ông gặp được vua Ngô là Hạp Lư, cùng với Tôn Vủ đem binh về báo thù nhà, nhưng lúc bây giờ vua Sở mới chết. Lòng thù hận đã khiến ông sai lính quật mồ vua Sở Bình Vương để bằm tử thi nát ra như cám cho hả giận. Khi vua Việt là Doản Thường nghe tin nước Ngô đang bỏ trống, định đánh lén bất ngờ, nhưng Tôn Tử đã giúp vua Ngô lui binh về kịp. Từ đó giữa Việt và Ngô lại tạo thù kết oán.http://lesyminhtung.net/index.php?option=com_content&view=article&id=71:nhan-nhuc&catid=34:pha-me-khai-ngo&Itemid=54Khi vua Ngô là Hạp Lư chuẩn bị kéo quân sang báo thù, thì vua Việt là Doản Thường bị bệnh chết, con là Câu Tiển lên thay. Vì không nghe lời can gián của Ngủ Tử Tư là đang lúc người ta có tang mà đánh là bất nhân, vua Ngô bị thảm bại mà chết, cháu là Phù Sai lên thay và thề sẽ trả mối hận này. Khi quân đã hùng mạnh thì vua Phù Sai đánh thắng vua Câu Tiển. Nhưng thay vì giết đi, lại nghe lời nịnh hót của Thái Tể Bá Hi để cho Câu Tiển được hàng.Trong thời gian bị giam cầm, vì chí lớn, Câu tiển nghe lời Phạm Lải  đi nếm phân của vua Phù Sai để lấy lòng trong khi ông ta đang bệnh. Quý vị có thấy là khi con người đã quyết chí báo thù thì họ chấp nhận làm bất cứ việc gì để có cơ hội phục thù. Vì nghĩ rằng Câu Tiển đã ăn năn nên Phù Sai thả “cọp” Câu Tiển về nước. Sau đó Câu Tiển nghe lời Phạm Lải đem mỹ nhân kế Tây Thi, Trịnh Đán cống sang làm cho Phù Sai say đắm mà quên đi phòng bị. Cuối cùng Câu Tiển đã diệt được Phù Sai.Cái nhẫn nhục của Câu Tiển thì trên đời nầy khó có ai bì kịp bởi vì ở địa vị cao sang tột đỉnh của một vì chúa tể một nước mà cam lòng làm tên giữ ngựa, hốt phân, giữ chuồng mà bề ngoài không tỏ ý oán hận. Việc nếm phân cho Phù Sai càng chứng tỏ sự nhẫn nhục đến tột độ và cho thấy chí phục thù mảnh liệt đã giúp cho Câu Tiển đến chỗ thành công. [B]Nhưng sự thành công nào mà không phải trả giá. Cái giá ở đây là từ khi Câu Tiển nếm phân, ông ta sinh ra bệnh hôi miệng cho nên dù cao lương mỹ vị ông ta ăn cũng không biết ngon.[/B] May thay, Phạm Lải tìm được một thứ rau gọi là “rau chấp” dâng cho vua ăn để trừ bịnh nầy. Rau này ăn có mùi hôi nhưng 0rất hạp với Câu Tiển nên nhà vua cho đặt tên ngọn núi có rau này là Chấp sơn.Có nhẫn nhục thì lòng từ bi mới chan chứa, tính thanh tịnh tràn lan, sự nghiệp dâng cao, người người quý trọng, và dĩ nhiên đạo quả viên thành.Vì nhận thấy công đức lớn lao và quý báu của nhẫn nhục, nên cổ nhân đã có câu nhắn nhủ với người đời một cách mạnh mẻ như sau:Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận.Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn hóa nhất tề tiêu.Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc.Hưu hưu hưu, cái thế công danh bất tự do.Tạm dịch là:Nhẫn nhẫn nhẫn (thân nhẫn, khẩu nhẫn, tâm nhẫn) thì điều trái chủ oan gia từ đây dứt hết.Nhịn nhịn nhịn (thân nhịn, khẩu nhịn, tâm nhịn) thì ngàn tai muôn họa đều tan biến.Nín nín nín (thân nín, khẩu nín, tâm nín) thì cảnh giới thần tiên vô hạn cũng do đây mà được.Thôi thôi thôi (thân thôi, khẩu thôi, tâm đều thôi) thì những công danh cái thế không còn tự do

0 people like this

vì sao xe bị cháy ???

(Dân trí) - Thời gian gần đây, người dân lo lắng rất nhiều khi hàng loạt xe máy, ô tô thuộc nhiều hãng xe bốc cháy khi đang đi hay dừng đỗ, trong nhà hay ngoài phố... Điều này dẫn đến một suy luận:  Không phải lỗi kỹ thuật mà là nhiên liệu có vấn đề? >>  Liên tiếp các vụ cháy nổ ô tô, xe máy bất thường****Suy luận này không phải không có căn cứ khi gần đây tại TP Hồ Chí Minh có hơn 11 doanh nghiệp bị rút giấy phép kinh doanh vì bán xăng kém chất lượng ra thị trường.Ngoài ra, các vụ cháy xe không còn tập trung vào một nhãn hiệu Honda mà đã xuất hiện cả ở các thương hiệu khác như SYM, Yamaha, Loncin… và cả ở các mẫu xe ô tô.Trong các vụ cháy xe máy, những điểm nghi vấn tập trung vào nguồn phát lửa (điện cao áp, ăc quy) và vật liệu cháy (xăng, nhựa, cao su, tạp chất ở cổ ống xả...). Và đến thời điểm này, việc sử dụng xăng kém chất lượng đã trở thành một trong những mối nghi vấn hàng đầu của các vụ cháy, khi mà  các hãng sản xuất đồng loạt công bố các yếu tố kỹ thuật vẫn trong điều kiện an toàn.Xăng kém chất lượng - có thể hiểu là xăng không đạt các quy định về chỉ số octal trong xăng. Ví dụ như xăng A95 nhưng thực tế chỉ đạt tiêu chuẩn của xăng A92, 90 hoặc thậm chí là 85. Nhưng đây chỉ là những gian lận về thương mại, không thể hiểu là có yếu tố tác nhân gây cháy. Vấn đề kém chất lượng ở đây, đáng lưu ý nhất,  là xăng bị pha thêm phụ gia, thủ phạm được nhắc đến nhiều nhất phải kể đến cái tên: Methanol. Loại phụ gia này khi pha vào xăng không làm thay đổi nhiều lắm công năng của xe, hoặc nếu có thì người tiêu dùng cũng khó mà phát hiện ra được.Xăng pha thêm methanol với mục đích trục lợi cá nhân khiến người bán không màng đến sự nguy hiểm cho cộng đồng hay sự bất ổn xã hội mà nó mang lại. Một lít methanol trên thị trường hiện có giá khoảng 11.000đ, nếu pha vào xăng với tỉ lệ khoảng 20-30%, người bán có thể lãi từ 4.000 đồng/lít trở lên, tùy loại xăng mà họ bán ra cho người tiêu dùng, mà quan trọng là người dân không thể phát hiện được nếu sử dụng loại xăng pha này.Khi dùng xăng pha methanol, nguy cơ cháy nổ tăng lên rất nhiều bởi methanol là một loại dung môi hòa tan cực mạnh, có thể ăn mòn các ống gioăng tại các chi tiết máy, các đường ống cao su dẫn nhiên liệu... Chính điều này dẫn đến rò rỉ nhiên liệu, chảy tràn ra ngoài. Và nếu tia lửa điện (đầu bugi, các mối nối dây điện bị hở...) hay nguồn nhiệt lớn như cổ ống xả, việc bắt cháy là không thể tránh khỏi.Hiện tại, khi mà các vụ cháy xe máy không còn khu biệt tại một hãng xe nhất định mà xảy ra với rất nhiều hãng xe, kể cả xe mới lẫn xe cũ, lý do dẫn đến hỏa hoạn càng được tập trung vào nhiên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ.Chính vì thế, trong khi các cơ quan chức năng chưa đưa ra được kết luận cuối cùng về nguyên nhân các vụ cháy nổ xe,  người tiêu dùng nên chủ động sử dụng nhiên liệu từ những đại lý xăng dầu lớn, có uy tín về chất lượng, tránh các nguồn cung cấp xăng dầu không đảm bảo, không đủ độ tin cậy để đảm bảo an toàn cho chính mình và người thân.Methanol là một loại cồn công nghiệp (có công thức hoá học CH3OH, còn gọi là methyl alcohol), là một chất lỏng, trong suốt, dễ bay hơi, cùng trọng lượng riêng với xăng.Ngoài ra, một số luồng thông tin còn đặt nghi vấn vào chất Ethyl acetate (có công thức hóa học C2H5COOCH3) cũng là một chất dung môi dễ hòa tan, không màu, có mùi hoa quả ngọt… Nhưng chất phụ gia này được loại trừ khả năng pha trong xăng bởi giá thành của nó hiện tại vào khoảng hơn 30.000đ/lít, nếu pha vào xăng thì không mang lại hiệu quả kinh tế cho người bán.

0 people like this

Giới là đôi mắt trái tim con

2) Định gồm có Chánh Tư Duy và Chánh Định. [B]Chánh Tư Duy là ôn lại những giáo lý và đạo lý của Phật để nhắc nhở chúng ta[/B] luôn giữ Chánh Niệm. [B]Một khi chúng ta suy nghĩ đúng làm cho vọng tưởng không còn quay cuồng thì tâm sẽ được thanh tịnh[/B]. Thêm nữa Chánh Duy Tư có nghĩa là đối chiếu với cuộc sống thực tế hằng ngày bằng cách [B]dùng đạo lý của Đức Phật mà ứng dụng vào trong cuộc sống để trắc nghiệm[/B] xem giáo lý đó [B]có đúng với hoàn cảnh xã hội của chúng ta cũng như xác định nó có thật sự là cứu cánh giải thoát [/B]cho mình không? Vì thế [B]Chánh Tư Duy chính là nền tảng căn bản để đưa con người vào Định[/B]. Tâm định có nghĩa là tâm có khả năng an trú trên một đối tượng mà không bị lay động bởi ý tưởng hoặc cảnh vật bên ngoài. Như thế thì Chánh Định là nền tảng cho Định mà [B]Chánh Tư Duy chính là khả năng để đưa con người vào sâu trong Định. Đây là giai đoạn rất quan trọng trong tam vô lậu học[/B] mà ngày xưa tất cả đại đệ tử của Phật đều ứng dụng để vào thánh đạo.3) Tuệ thì bao gồm Chánh Tinh Tấn, Chánh Kiến và Chánh Niệm. Khi tâm đã định thì Chánh Kiến giúp chúng ta phát sinh trí tuệ bằng cách phân biệt để thấy, biết rõ ràng đâu là tà kiến. [B]Càng siêng năng, nỗ lực thì trí tuệ càng phát sinh và sau cùng Chánh Niệm giúp chúng ta giữ vững niệm lành trong tâm.[/B] Một trong những Chánh Niệm là áp dụng câu:”Văn như Tư và Tư như Tu” thì Ly mà có hỷ lạc tức là lìa xa ái dục thì sẽ được vui. Từ sơ thiền đến tứ thiền tức là xả niệm thanh tịnh thì chắc chắn trí tuệ sẽ phát sinh.Thí dụ như [B]màn đêm buông xuống, cũng ví như vô minh che lấp trí tuệ, làm cho chúng ta nhìn ra ngoài thấy sợi dây thừng mà tưởng lầm là con rắn nên đâm ra sợ hãi, ví như vọng tưởng Tham-Sân-Si. Sau khi lấy đèn Pin , tức là định lực, ra rọi ngoài sân để xem xét, tức là quán, nhưng vẫn không thấy rõ vì đèn Pin hơi yếu không đủ sáng, có nghĩa là định lực yếu.[/B] Nhưng[B] khi dùng đèn pha, tức là định lực mạnh, thì thấy con rắn chỉ là sợi dây thừng. Thấy rõ thực tướng để không còn nhìn, thấy, biết sai lầm, tức là phát sinh trí tuệ. [/B]Ngay [B]lúc đó chúng ta bừng tỉnh, tức là giác,  không còn hoang mang sợ hãi, tức là không còn vọng tưởng Tham-Sân-Si và được thay thế bằng an lạc tự tại[/B], tức là Niết Bàn. Như vậy [B]Định lực càng mạnh thì việc quan sát càng dễ [/B]dàng để thấy rõ thật tướng của vạn vật. [B]Nhưng có định lực mạnh mà không rọi đúng vào đối tượng, chẳng hạn như đèn pha mà không rọi đúng vào con rắn thì làm sao biết được đó chỉ là sợi dây[/B] thừng, thì cũng không thể nào giải tỏa được cái nhìn, biết sai lầm. [B]Vì thế vô mình còn thì trí tuệ không sanh. Do đó Trí tuệ là ánh sáng để phá tan bóng tối vô minh[/B].[B]Một thí dụ khác là nếu chúng ta đặt một tảng đá trên nắm cỏ. Vì đá đè quá nặng nên cỏ không mọc nổi, nhưng khi lấy tảng đá thì cỏ mọc trở lại. Định thì cũng thế, Định chỉ tạm thời đè nén Tham-Sân-Si xuống và khi xả Định thì Tham-Sân-Si sẽ phát tác[/B] trở lại. Vì thế [B]Định không trừ được Tham-Sân-Si. Nếu chúng ta không có Tuệ thì vĩnh viễn không thể nào trừ dứt được tận gốc cái tam độc nầy. Mà Tuệ chỉ được phát triển qua thiền Quán, tức là Chánh Niệm mà thôi.[/B]Quả thật ảnh hưởng của Bát chánh đạo giúp con người tránh xa mê lầm đau khổ để chuyển tâm đi vào thánh đạo. [B]Chính Bát chánh đạo rất thực tiển giúp chúng sinh thấy được sự mầu nhiệm vì chính Đức Phật đã cẩn thận sắp xếp theo thứ tự để chúng sinh áp dụng tùy theo hoàn cảnh và căn cơ mà tu hành. [/B]Tất cả các vị đại đệ tử của Phật trong quá khứ nếu [B]muốn đạt thành Phật đạo viên mãn thì phải đi theo con đường tam vô lậu học, tức là Giới, Định, Tuệ.  Ngày nay thì cũng thế nếu có chúng sinh muốn thành tựu đạo quả Bồ-đề thì Giới, Định, Tuệ vẫn là con đường duy nhất[/B] để đưa họ từ bờ mê sang bến giác.Thêm nữa[B] mục đích của thiền định trong Phật giáo là loại bỏ Tham-Sân-Si [/B]bởi vì đời sống của con người sở dĩ khổ đau và hổn loạn cũng tại vì những ô nhiễm đó. Khi nào còn Tham-Sân-Si thì nhân loại còn lầm than khốn khổ. Vì thế thiền định là[B] phương cách hữu dụng nhất để loại trừ những bất tịnh nầy. Tuy nhiên việc loại trừ tập nhiễm của tam độc không thể thực hiện được một cách nhanh chóng và dễ dàng vì Tham-Sân-Si đã ăn sâu vào trong tâm hồn của con người từ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp.[/B] Phật giáo là con đường tìm kiếm Chân Lý mà thiền định là một phần của đường lối đó. Thiền định giúp con người tĩnh tâm và tĩnh tâm là để nhận chân Chân Lý. Khi tâm con người[B] bị chi phối bởi Tham-Sân-Si thì họ không thể nhìn vạn pháp đúng với chân tướng [/B]của nó. [B]Trái lại khi các ô nhiễm nầy bị tẩy trừ thì lúc đó Chân Lý sẽ hiện[/B] bày.Nếu nói rằng Tham là một trong những gốc của bất thiện thì làm sao con người có thể sống được nếu không còn ham muốn gì cả?  Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới văn minh tiến bộ đầy đủ mọi thứ về vật chất thì chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa ham muốn và nhu cầu. Sống trên đời chúng ta cần có những nhu cầu cần yếu như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, xe di chuyển, máy vi tính…để cho đời sống được tiện nghi.[B] Ngược lại ham muốn chỉ xuất hiện khi nào chúng ta có những cố gắng thỏa mãn những đòi hỏi của thị dục, có nghĩa là vượt ra khỏi hàng rào tri túc.[/B] Đây là động lực chính làm con người đau khổ khi những ước muốn của mình không được thỏa mãn. Khi nhìn thấy rõ như thế thì người [B]tu Phật không hề bị bắt buộc phải xóa bỏ tất cả mọi tiện nghi vật chất. Họ có thể có tất cả những gì họ cần nhưng luôn luôn phải biết đâu là nhu cầu cần thiết và đâu là lòng ham muốn, tham lam.[/B]Chân lý Tứ Diệu Đế đã được Đức Phật truyền dạy cho đệ tử từ khi Ngài mới bắt đầu thành đạo cho đến khi Ngài bắt đầu nói Kinh Bát Nhã. Thế thì pháp [B]Tứ Diệu Đế nầy là cổ xe không thể rời bỏ được nếu chúng sinh muốn đoạn trừ phiền não[/B] để đạt đến bốn quả vị Thánh trong Thanh Văn thừa. Biết bao đệ tử của Phật đã thành tựu Thánh quả dựa vào chân lý nầy thì tại sao ngày nay chính Đức Phật lại đánh đổ, bảo là không có? Chúng ta sẽ phân tích rõ ràng điều nầy sau phần Lục độ ba-la-mật.“[B]Trong đạo Phật, sợ nhất là nói thị phi. Kẻ nói chuyện thị phi là kẻ thị phi (không đáng tin cậy), chỉ tạo khẩu nghiệp[/B]”.“Người tu Phật cần[B] phải trong ngoài nhất trí, không tự mâu thuẫn tức là không được “khẩu thị tâm phi”[/B] có nghĩa là miệng nói một đàng mà tâm nghĩ một ngả”.

0 people like this

Giới là nền tảng mọi điều tốt lành

3)Tuệ: [B] Mặc dầu định lực có sức mạnh vô song, nhưng Phật giáo chỉ dùng nó để phát triển trí tuệ [/B]mà thôi. [B]Kiến thức của thế gian không phải là Trí tuệ theo ý nghĩa của nhà Phật[/B]. Các[B] nhà bác học, bác sĩ, luật sư, học giả tuy là những người học rộng biết nhiều, nhưng họ còn bị tham, sân, si sai khai khiến và phiền não quấy phá.[/B] Chính vô minh, ái dục đẩy đưa họ lún sâu vào sinh tử luân hồi thì cái trí thức đó chỉ là cái vỏ bề ngoài còn [B]trí tuệ của nhà Phật mới thật là cái sáng suốt triệt để phát xuất từ trong tự tánh[/B] của con người. [B]Do đó người có trí tuệ sống trong thế gian nhưng không bị ô nhiễm của thế sự.[/B]Như vậy [B]nhờ sự tổng hợp của thiền Chỉ và thiền Quán mà phát sinh ra trí tuệ [/B]để nhận thức được chân lý mà tiến về giải thoát giác ngộ. Đối với đạo Phật[B] trí tuệ được xem như bước tiến cuối cùng trên đường giải phóng cái tự ngã [/B]của mình.[B]Tiến trình Giới-Định-Tuệ được thực hiện nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào khả năng và ý chí[/B] của mỗi người. Nếu [B]họ cố gắng và kiên trì thì có kết quả viên mãn. Ngược lại nếu họ không cố gắng và giải đải thì tiến trình nầy sẽ bị ngưng trệ và gãy đổ[/B] hoàn toàn.[B]Giới trong sạch thì tâm không phiền[/B] não.[B] Tâm không điên đảo thì cuộc sống sẽ vui[/B] vẻ và an lạc. Một khi tâm an thì đưa đến an tịnh, sáng suốt và [B]đây là con đường phát sinh trí tuệ để thấy được thực tướng [/B]của vạn hữu. Khi chân tướng hiện bày thì không còn tham ái tức là chứng được Niết bàn và giải thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.Muốn giới trong sạch thì con người phải quan tâm về lợi dưỡng. [B]Vì thế kinh Phật có câu:”Sơ nghiệp Bồ tát đương quán lợi dưỡng sanh tham dục cố”, có nghĩa là :”Sơ nghiệp Bồ tát nên biết rằng lợi dưỡng sanh ra tham dục vậy”.[/B]  Ví như một cây an trái, nếu ngày ngày chúng ta tưới nước dặm phân dưới gốc cây thì cây nầy sẽ đâm hoa kết trái sum suê. Con người thì cũng thế, nếu hằng ngày cứ chạy theo danh văn lợi dưỡng thì tâm sinh ra tham dục. Lòng tham dục càng lớn thì phiền não càng nhiều. Mà tham phiền não tăng trưởng thì dĩ nhiên si, mạn, nghi phiền não cũng đều nổi lên theo. Do đó càng tham cầu lợi dưỡng thì tâm càng dính mắc ở lục trần. Mà tâm càng dính mắc thì con người càng dễ đánh mất tâm thanh tịnh của mình.http://lesyminhtung.net/index.php?option=com_content&view=article&id=197:10-gioi-dinh-tue&catid=36:bat-nha-tam-kinh-giang-giai-vo-thuong-niet-ban&Itemid=34Bây giờ [B]Giới, Định, Tuệ liên hệ với Bát Chánh Đạo[/B] như thế nào?1)Trước hết [B]Giới là khuôn vàng thước ngọc giúp con người tránh xa ác nghiệp[/B] và vun bồi thiện nghiệp để tâm được trong sạch và thanh tịnh. Như thế trong Bát Chánh Đạo thì Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng thuộc về Giới. Tại sao? Nếu chúng ta tránh xa những lời nói gian dối, đâm thọc, ác độc và nhảm nhí thì Chánh Ngữ sẽ giúp con người có được những lời nói chân thật, hòa nhã, thanh tao và hữu ích phát sinh từ tâm Từ bi, quảng đại của mình. Nếu chúng sinh tránh xa ba loại hành động là sát sinh, trộm cướp và tà dâm thì Chánh Nghiệp tức là hành động bởi thân sẽ không còn do Tham-Sân-Si thúc đẩy. [B]Còn nghề nghiệp làm ăn chân chính không mang lại sự thiệt hại cho xã hội và cho chúng sinh như không buôn bán vũ khí, giết hại súc vật, không buôn bán ma túy rượu chè, không mở vũ trường cờ bạc…[/B]thì chúng ta đã thực hành đứng đắn Chánh Mạng rồi.Vậy [B]khi nói đúng, không tạo nghiệp và làm đúng tức là chúng ta không phạm Giới.[/B] Ngày xưa sau khi Đức Phật thành đạo thì Ngài bắt đầu thu nhận đệ tử để truyền lại Chánh pháp mà Ngài đã chứng dưới cội Bồ-đề. Liên tiếp trong [B]mười hai năm đầu, Đức Phật chưa hề nói đến Giới[/B]. Tại sao? [B]Vì những đệ tử đầu tiên nầy là những người có đức hạnh cao. Họ đến với đạo Phật là vì bổn nguyện muốn được giải thoát giác ngộ. Phần lớn họ xuất thân từ những vương gia quý tộc, giàu sang quyền quý.[/B] Chẳng hạn như tôn giả Tu Bồ Đề là cháu của trưởng giả Cấp Cô Độc Tu Đạt Đa. Chính trưởng giả Tu Đạt Đa là vị đại thần của nước Ma Kiệt Đà có quyền uy mà ngay cả Thái tử Kỳ Đà còn phải kiêng nể. Còn thân phụ của tôn giả thì làm quân sư cho vua xứ Ma Kiệt Đà thì quyền uy và tài sản gia đình họ Tu chỉ thua nhà vua. [B]Khi xuất gia theo Phật thì tôn giả cũng như mọi người, tức là tài sản duy nhất chỉ có tam y, nhất bát mà thôi. Đối với tôn giả đi tu là muốn được giải thoát giác ngộ. Mà muốn đạt đến cứu cánh tột đỉnh nầy thì phải chấp nhận buông xả tất cả để tâm được thanh tịnh. Một khi có tài sản thì phải lo, phải giữ. Có càng nhiều thì lo càng lớn và dĩ nhiên đau khổ phiền não càng to. Muốn đạt thánh đạo thì phải đoạn trừ phiền não có nghĩa là phải buông xả tất cả. Không còn Tham-Sân-Si thì tâm sẽ an định. Vì thế chúng ta có thể hiểu Phật là người không còn gì để mất, vì Phật chẳng có cái gì để mất cả.[/B]Như thế Ngài mới ung dung tự tại và tâm thường trụ Niết Bàn là vậy. Rất tiếc sau mười hai năm thì tăng đoàn không còn như trước. Tỳ kheo bây giờ vì danh văn lợi dưỡng mà quy y theo Phật chớ không còn tôn chỉ cao quý là muốn được tự độ để độ tha như thủa ban đầu. Họ gây ra lắm điều phiền não làm bận lòng [B]Đức Phật vì thế Ngài bắt đầu chế ra giới luật với mục đích nhắc nhở chúng Tỳ kheo quay về với chánh đạo.[/B] Nếu[B] không giữ giới thì tâm không bao giờ an, mà tâm không an thì không bao giờ có thể vào định được. Không vào sâu trong thiền định thì vĩnh viễn trí tuệ không phát sanh. Vì thế dù có tu ngàn đời, muôn kiếp cũng không thể nào giải thoát được, có nghĩa là không đoạn được phiền não và thoát ly ra khỏi lục đạo luân hồi.[/B][B]Kinh Kim Cang dạy con người nhìn sâu vào đối tượng để nhận biết bản tính chân thật, đó là thật tướng vô tướng[/B]. Đối [B]với Phật giáo tất cả mọi hình tướng bề ngoài chỉ là tạm bợ, không chắc thật[/B]. Vì thế [B]Phật dạy rằng:”Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” là vậy. Con người càng chạy theo hình thức bề ngoài thì càng chuốc lấy hệ lụy khổ đau.[/B] [B]Cái thật chất nằm trong nội tâm sẽ phản ảnh bản chất đạo đức, tâm thanh tịnh và tánh thuần lương hay là tâm Bồ-đề để [/B]sống với mọi người. [B]Tâm hồn cao thượng, việc làm chân chính, lời nói hòa nhả và sống vị tha, vô ngã là những chất lượng của người giữ giới.[/B] Vì thế hằng ngày nếu thực tập Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng một cách đứng đắn thì chúng ta sẽ có cuộc sống rất an vui tự tại và đây chính là chất liệu căn bản như xăng nhớt để làm cho chiếc xe chạy vậy. Bởi vì [B]có giới thì mới tiến đến định và sau cùng thì trí tuệ mới phát sinh, có nghĩa là có xăng thì xe mới chạy và khi xe chạy thì nó sẽ đưa chúng ta đến chỗ giải thoát. Đây chính là cứu cánh [/B]cho tất cả mọi người.

0 people like this

Giới Định Tuệ

[B]Giáo lý nhà Phật giúp con người giải thoát tất cả mọi phiền não [/B]khổ đau để cho thân tâm được an lạc và chứng ngộ Niết bàn. Chính tam vô lậu học tức là [B]Giới, Định, Tuệ sẽ là con đường duy nhất để giúp chúng sinh đạt đến tiến trình từ Mê đến Giác, từ Phàm đến Thánh.[/B][B]Tiến trình để đi đến Giải Thoát Giác Ngộ của người Phật tử được ví như sự phát triển của một hạt giống.[/B] Trước hết[B] hạt giống cần có môi trường tốt để bắt đầu nẩy mầm[/B] sanh rễ. [B]Khi rễ đã phát triễn thì thân cây mới thành hình và sau đó mới đâm cành trổ lá. Rễ càng dài, càng vững chắc thì thân cây càng to càng lớn và cuối cùng khi đã lớn mạnh thì cây mới có thể đơm hoa kết trái.[/B] Do đó [B]rễ ví nhu Giới, thân cây ví như Định, hoa ví như Trí Tuệ và trái là quả vị Niết bàn.[/B]1)Giới: [B]Trong bất cứ xã hội nào trên thế giới thì luật pháp được đặt ra với mục đích ngăn ngừa và trừng trị những ai có ý phá rối an ninh trật tự [/B]để mọi công dân được sống trong thanh bình. Đây là nói về luật pháp của thế gian. Còn Giới của Phật giáo có ý nghĩa sâu rộng hơn nhiều. [B]Giới trong Phật pháp là những điều răn cấm cho Phật tử  tại gia và xuất gia phải tuân theo để ngăn ngừa và cảnh giác[/B] làm cho Thân-Khẩu-Ý không tạo nghiệp. Mà không tạo nghiệp thì khỏi phải đi lang thang lẩn quẩn trong vòng sinh tử triền miên. [B]Nên nhớ việc ta làm thì ta phải biết và dĩ nhiên là chính ta phải gánh[/B] chịu quả nghiệp của nó, [B]tức là “Tự tác hoàn tự thọ”[/B]. Khi [B]một người phá giới thì không có nghĩa là họ có tội với trời hay Phật, mà chính họ đã tự tạo cho mình ác nghiệp để phải chịu quả nghiệp khổ đau sau nầy chớ không phải trời phạt hay Phật đọa gì cả[/B]. Còn người giữ giới thì họ tránh không làm điều gì phương hại đến người và vật chung quanh, tức là mang lại sự an ổn cho tất cả mọi người. Đây chính là sự phát triển tâm Từ bi của mình vậy. Vì sự quan trọng của[B] Giới nên Kinh Bồ Tát Giới viết rằng:[/B]Giới như đại minh đăngNăng tiêu trừ dạ ámGiới như chơn bảo kínhChiếu Pháp tận vô diGiới như ma ni châuVũ vật tế bần cùngLy thế tốc thành PhậtDuy thử Pháp vi tốiTạm dịch là:Giới như ngọn đèn lớnCó khả năng tiêu trừ đêm dài tăm tốiGiới như tấm gương quý báuSoi hết thảy các PhápGiới như viên Ngọc Như ÝHóa vật để giúp kẻ nghèoMuốn mau giải thoát thành PhậtChỉ có giới là hơn hết.Chẳng những thế,[B] trong Kinh Phạm Võng cũng đề cao Giới như sau:[/B]Giới như minh nhật nguyệtDiệc như anh lạc châuVi trần Bồ Tát chúngDo thử thành Chánh Giác.Tạm dịch là:Giới như mặt trăngMặt trời chiếu sángHoặc như ngọc Anh LạcVô số Bồ Tát nhờ đó mà thànhChánh giác.Như vậy Giới là bước tiến đầu tiên trong việc cải thiện Thân, Khẩu, Ý cho đến chỗ toàn Chân, toàn Thiện và toàn Mỹ.2)Định: [B] Một khi Giới được hoàn hảo thì tư tưởng, lời nói và hành động sẽ trở thành chân chính. Từ đó khi lời nói và hành động chân chính có thể đưa đến một nội tâm thanh tịnh.[/B]Phần dịch thuật kinh điển Phật giáo được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu thì được [B]Ngài Cưu Ma La Thập (Kumaralabdha) là vị Pháp sư danh tiếng lỗi lạc ở Ấn Độ và cũng là người đã từng thông suốt cả Kinh, Luật và Luận tạng. [/B]Ngài phiên dịch kinh điển bằng tiếng Phạn do Ngài A Nan và các vị đại A La Hán kết tập. Theo đó thì thiền định có nghĩa là tĩnh lự, tĩnh tức là Chỉ có nghĩa là Định, còn lự tức là Quán có nghĩa là Tuệ. Sau nầy chính Ngài Đường Tam Tạng Trần Huyền Trang qua tận Ấn Độ thỉnh kinh về Trung Hoa và dịch sang Hán tự thì thiền định có nghĩa là tư duy tu. Như thế thì thiền định không có nghĩa là thiền tông hay là phải ngồi kiết già thì mới đạt được định. Mà định ở đây chính là phải tư duy, suy nghĩ về đối tượng của Phật pháp ngỏ hầu tìm cho ra chân lý của nó để tâm được an.[B] Chúng ta có thể niệm Phật, có thể đi kinh hành, có thể nằm, ngồi…miễn sao có thể chú tâm vào một đối tượng để tư duy quán chiếu và cuối cùng có thể loại bỏ tất cả những tạp niệm chung quanh. Phương pháp nầy được gọi là thiền Chỉ [/B]của nhà Phật.Cuộc sống hằng ngày, con người[B] phải vật lộn với bao nhiêu hoàn cảnh làm tâm của họ luôn luôn biến đổi. Chỉ trong một giây, một phút có cả hàng trăm hàng ngàn ý nghĩ khác nhau đua nhau sanh khởi trong tâm của chúng ta, mà tệ hại nhất là những ý niệm bất thiện như tham lam, dục vọng, sân hận, tật đố…làm cho tâm điên trí đảo.[/B] Vì sự nguy hại của dục vọng, trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng:“[B]Chế ngự được tâm là quý, vì cái tâm thật khó mà kiểm soát. Nó chạy không ngừng theo tham dục. Một khi tâm đã được chế phục sẽ đem đến hạnh phúc[/B]”.Đời sống con người [B]không những bị chi phối bởi những tư tưởng trong ý thức giới như tham lam, giận hờn và si mê mà chúng ta đôi khi còn bị ảnh hưởng bởi những sinh hoạt của cõi vô thức.[/B] Thí dụ như khi ngủ, con người nằm mơ thấy những cảnh hãi hùng kinh sợ trong giấc chiêm bao của họ.[B]Muốn chinh phục, kiểm soát được nội tâm thì thiền định là một phương pháp phát huy sức mạnh tinh thần hiệu nghiệm nhất.[/B] Theo đó thì người tu [B]cố gắng chú tâm vào một đối tượng cho đến khi tâm có khả năng an trú và không lay động bởi ý tưởng hoặc cảnh vật bên ngoài. Khi tâm đã định thì tinh thần trở thành một nguồn năng lực vô song.[/B] Ngày xưa các vị A La hán [B]có được thần thông biến hóa là do khả năng đi sâu vào thiền định của họ[/B]. [B]Chính cái nguồn năng lực vô song nầy sẽ hủy diệt tất cả mọi phiền não để tâm được an nhiên tự tại[/B] và sau cùng chặt đứt vòng sinh tử luân hồi.

0 people like this

Luật Nghiệp Quả và Tướng Diện

Luật Nghiệp Quả và Tướng Diện         [B]Trên thế gian nầy không một ai lại muốn mình xấu xí [/B]bao giờ, vì thế nếu có người sinh ra với dáng hình xinh đẹp thì hạnh phúc vui tươi còn kẻ khác có tướng mạo xấu xa thì lo âu buồn rầu. Thêm nữa, người [B]có gương mặt khả ái thì dễ dàng thành công hơn trong vấn đề giao tế xã hội. Cũng vì tầm quan trọng về sắc đẹp nên hàng năm cộng đồng Việt Nam khắp mọi nơi thường tổ chức tuyển chọn hoa khôi [/B]để hãnh diện cho cộng đồng. Phái nữ thì thế còn phía nam phái thì cũng không khác biệt bao nhiêu, chúng ta thấy những tài tử nổi tiếng như Tom Cruise, Lý Tiểu Long, Trần Quang… thì người nào cũng thuộc hạng handsome boy cả.Ngày Đức Phật còn tại thế, hoàng hậu Mallika có hỏi Đức Phật về nguyên nhân nào để được sanh ra đẹp xấu. Đức Phật trả lời rằng:” [B]Người có tâm nhu hòa, nhẫn nhục sẽ được đẹp đẽ và kẻ có tâm sân hận sẽ chịu xấu xí[/B]”.Theo quan niệm của Đức Phật thì [B]nét đẹp được tạo nên từ một tâm lý đạo đức lúc nào cũng có giá trị hơn là chỉ có cái đẹp bên ngoài mà không có một giá trị đạo đức bên trong.[/B] Dựa[B] theo Luật Nghiệp Quả thì chúng ta có thể gây ra nhiều nghiệp nhân khác nhau để cuối cùng nhận được một quả báo xinh đẹp. Nhưng sắc đẹp nầy chưa chắc là một nét đẹp chân thật, hiền hòa[/B]. Trong lịch sử nhân loại từ Đông qua Tây chúng ta thấy[B] rất nhiều những người đàn bà tuyệt đẹp với nhiều thủ đoạn độc ác để chiếm đoạt quyền hành và gây sóng gió khắp nơi. Cái phước xinh đẹp được gây từ nhiều nhân tốt mà thiếu mất cái nhân đạo đức chân thật, vì vậy từ nơi cái phước xinh đẹp họ đạt được đỉnh vinh quang mà cũng gieo rắc đau khổ cho nhiều người khác.[/B][B]Vì sự giả dối, tạm bợ và không bền chắc của sắc đẹp nên Đức Phật luôn luôn khuyên chúng sinh nên vun bồi cái đạo đức[/B] bên trong thì nó sẽ là nên móng căn bản cho sắc đẹp bên ngoài và đây mới chính thật là một sắc đẹp nhận hậu và bền vững.Mỹ nhân trên thế gian nầy thì có đủ hạng. Có nét đẹp gây nên sự quý mến kính trọng trong sạch và cũng có nét đẹp gây nên sự ham muốn chiếm đoạt thấp hèn. [B]Đôi khi chúng ta thấy có nét đẹp bày tỏ sự cao thượng từ tốn thì ngược lại cũng có nét đẹp lộ ra sự kiêu hãnh tự phụ. Có cô thì đẹp kín đáo và cũng có cô thì đẹp lẳng lơ. Phật dạy sở dĩ có sự khác nhau giữa các nét đẹp như thế bởi vì mỗi người đã gieo cho mình trong tiền kiếp những nghiệp nhân khác nhau.[/B] Nếu[B] tự mình khéo gieo nhân, thì người ấy cũng có thể tạo cho mình một quả báo để có diện mạo đẹp đẽ về sau, nhưng nét đẹp đó không liên quan gì tới đạo đức.[/B] Do đó họ [B]có thể là tuyệt thế mỹ nhân nhưng họ vẫn có thể là người ác. [/B]Gần đây nhiều [B]bác sĩ tâm lý học đã đưa ra nhận xét là một người càng chú trọng tới việc trang điểm cá nhân nhiều chừng nào thì tâm địa càng hẹp hòi chừng ấy.[/B] Còn [B]người đứng đắn là người chỉnh tề, vừa phải và không se xua chưng diện quá đáng.[/B] Sau cùng họ kết luận rằng một [B]người có đôi mắt lẳng lơ cũng là người  có tính tình độc ác hung dữ. Vì thế thói lẳng lơ hoa nguyệt với tính hung ác thường đi chung [/B]với nhau.Đối với [B]quan niệm của Đông phương thì chữ đẹp thường đi đôi với chữ duyên lý do là dầu cho người đó có đẹp cách mấy thì sắc đẹp đó chỉ có thể thu hút kẻ khác những lúc ban đầu nhưng không giữ được tình cảm lâu [/B]bền vì không có duyên. [B]Chữ duyên nói lên cái gì ẩn dấu kín đáo bên trong mà làm cho người khác phải xiêu lòng[/B] vì thế [B]người có duyên mới là người giữ được tình cảm tốt của người khác một cách bền bĩ [/B]lâu dài.Người có duyên hiểu theo tinh thần đạo Phật là [B]người đã từng kiên trì giữ giới hạnh, sắc son chung thủy với bạn đời, tín nghĩa với bạn bè, hiếu để với cha mẹ, trung hậu với chủ nhân và luôn cúng dường bố thí…Chính những cái phước duyên nầy đã kết tập để tạo cho họ một cái duyên ở đời sau làm cho mọi người quý mến họ mãi mãi. Do đó hầu hết các mệnh phụ phu nhân đều thuộc về hạng người có duyên nầy, còn các kỷ nữ thì phần lớn thuộc về loại đẹp mà vô duyên[/B].[B]Nếu có những người tính tình hay thay đổi, lòng dạ không thủy chung, hiếu để chẳng tròn, chữ tín không giữ ngay cả phát tâm làm phước rồi bỏ cuộc nửa chừng sẽ cảm nhận quả báo vô duyên ở đời sau.[/B] Vì vậy [B]dù sắc đẹp lộng lẫy đi chăng nữa, họ cũng chỉ chiếm đoạt được cảm tình của người khác trong thời gian ngắn mà thôi.[/B][B]Cái duyên nó thường tiềm ẩn bên trong ánh mắt, làn da và phảng phất qua tiếng nói giọng cười vì vậy người vừa đẹp mà có duyên thì dĩ nhiên vừa được cảm tình của người mà còn được người quý mến.[/B]Nói chung[B] con người tạo nghiệp trong quá khứ thì hiện tại những chủng tử của nghiệp báo sẽ tác tạo cái hình dáng của người đó dựa theo những quả báo của họ. [/B]Chẳng hạn một người trong [B]quá khứ từng làm nhiều điều phước thiện như bố thí, giúp đỡ người nghèo khổ, ban niềm vui hạnh phúc cho kẻ khác do đó khi qua kiếp nầy thì người đó sẽ trở thành một kẻ giàu sang sung sướng. [/B]Luật [B]Ngiệp Báo không dừng lại ở đây mà còn an bài thêm cho họ một gương mặt vui tươi, bình tĩnh, miệng cười duyên dáng, dáng điệu khoan thai và sắc da tươi mát[/B]. Trong thế gian,[B] các nhà xem tướng số đã căn cứ vào hình tướng và sắc diện để đánh giá cuộc đời [/B]của một người. Chẳng hạn như người có [B]tai to thì đại thọ [/B]còn kẻ [B]có tai dày là sung mãn về tài vật.[/B][B] Người có răng trong đẹp là phú quý còn kẻ có lông mày gần mắt là hẹp hòi.[/B] Kẻ [B]có trán rộng là vinh hiển sớm [/B]còn người [B]có mũi to đầy kín là tạo được sự nghiệp kết xù.[/B] Sự hiểu biết và chính xác của các nhà tướng số chẳng qua là khả năng nhìn kỹ vào sắc diện và thần tướng của con người mà thôi.[B] Thí dụ nhà tướng số nói năm nay anh sẽ bị tai nạn, xui xẻo, nhưng nếu cố làm điều thiện có thể tai qua nạn khỏi. Khi trông thấy thân chủ có sắc diện bất thường, con người nóng nảy, mặt mày không nhân hậu thì trước sau cũng xảy ra tai họa mà thôi.[/B]  Nhưng sau một năm mà không thấy chuyện gì xảy ra thì nhà tướng số nói nhờ tu phước nên tai họa biến mất. Như thế thì đàng nào nhà tướng số cũng nói đúng cả.[B] Vì tướng mạo là biểu hiện của nghiệp do đó nếu nghiệp thay đổi thì tướng mạo chắc chắn sẽ đổi theo.[/B]Ngày xưa có vị đại sư khi nhìn thấy những vầng đen trên trán của một đệ tử thì đoán rằng vận mệnh của người học trò nầy không thọ quá ba tháng nên cho phép người đệ tử được về quê thăm cha mẹ. Trên đường đi người đệ tử thấy một đàn kiến lớn sắp bị chết đuối ở bờ sông. Cậu ta bèn nhảy xuống sông dùng những khúc cây lớn để vớt từng nhóm kiến và sau đó đặt chúng lên bờ cho chạy đi. Sau khi về thăm và ở lại với cha mẹ ba tháng thì người đệ tử trở lại cửa thiền. Khi thấy người đệ tử còn sống trở về làm cho vị đại sư hết sức ngạc nhiên. [B]Ngài quan sát tướng diện của cậu bé thì thấy những vầng đen trên trán đã biến mất không còn nữa và được thay bằng một làn da hồng hào tươi mát. Vị hòa thượng hỏi rõ ngọn ngành thì mới biết nghiệp thiện mà người đệ tử tạo ra đã cải đổi vận mệnh và thần tướng của người đệ tử nầy.[/B]Một câu chuyện khác là có anh bán than nghèo khổ lang  thang được thầy tướng số cho biết là tương lai[B] sẽ chết đói vì có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng. [/B]Ngày kia [B]anh bán than gặp một thiếu nữ đang ngồi khóc nức nở bên bờ giếng. Hỏi ra mới biết là cô đem vàng đi chuộc tội oan cho cha, nhưng chẳng may khi múc nước để uống thì cô đã đánh rơi túi vàng xuống giếng. Cô không dám xuống vì dưới giếng người ta nói có con rắn lớn rất hung dữ. Vì quá tuyệt vọng thiếu nữ muốn quyên sinh. Nghe xong anh bán than tự nghĩ trước sau mình cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được túi vàng cho cô gái. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế.[/B]Khi gặp lại, [B]nhà tướng số rất đổi kinh ngạc nói với người bán than là tướng chết đói của ông ta đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ huy hoàng.[/B]Thật vậy, [B]vì mang ơn cứu gia đình nên thiếu nữ đem anh bán than về dạy dỗ và kết nghĩa vợ chồng. Sau đó vì muốn tiến thân, cha thiếu nữ gởi gấm chàng bán than sang một người bạn khác để nhờ tiến cử. Trên bước đường tiến thân, anh bán than ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn. Nhưng vừa mới gặp, nhà tướng số lại bảo tướng chết đói lại hiện trở lại làm anh bán than tức giận bỏ đi.[/B][B]Sau khi được làm quan, anh bán than đã đánh mất nhân cách, chỉ lo cưỡng bức các cô gái đẹp nên bị triều đình hạ lịnh bắt về kinh trị tội. [/B]Quá sợ hãi, [B]anh trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một tảng đá. Người vợ đau khổ tìm chồng trông thấy xác chết cũng gục chết theo.[/B]Khi [B]liều mình để cứu người khác là sự bố thí nội tài[/B] rộng lớn. [B]Cái phước đức đó quá lớn đến nỗi chuyển hẳn tướng mạo và số mệnh [/B]để [B]giúp cho anh bán than được công danh [/B]vinh hiển. Nhưng rồi, [B]tư cách tham dục đã phá vỡ phước cũ để cho nghiệp chết đói đủ cơ duyên xuất hiện trở lại.[/B]Như vậy, [B]tướng mạo tùy thuộc vào nghiệp chứ không cứng ngắc cố định. [/B]Nếu nghiệp thay đổi thì tướng mạo cũng đổi thay. [B]Do đó hằng ngày nếu chúng ta luôn thực tập môn bố thí từ nội tài đến ngoại tài để cứu giúp mọi người thì chắc chắn tướng mạo và số kiếp chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp viên mãn[/B]

0 people like this

nhìn thẳng vào tâm

[B]Tại sao Tổ nói “Chẳng lập văn tự” có nghĩa là không lệ thuộc vào chữ nghĩa kinh điển mà chính Tổ lại đem theo bộ Kinh Lăng Già gồm bốn quyển sang Trung Hoa truyền lại cho đệ tử? [/B] Thật ra[B] ý của Tổ là muốn phá kiến chấp sai lầm của những người cho rằng thông kinh hiểu nghĩa là ngộ đạo thì chẳng khác nào cho ngón tay là mặt trăng. [/B]Còn[B] “truyền ngoài giáo lý” là để khai thị cho con người hiểu rằng mặt trăng không phải là ngón tay[/B]. Đây chính là tư tưởng của Đại thừa tức là [B]văn tự kinh điển chỉ là chiếc bè[/B]. Mà [B]con người còn chấp chiếc bè thì biết đến bao giờ mới qua đến bờ bên kia tức là giác ngộ. Vì thế Tổ mới nói đừng chấp vào kinh điển mà hãy nhìn thẳng vào tâm mình để thấy được cái thật Tánh của mình thì sẽ được giải thoát giác ngộ.[/B] Bởi [B]vì nếu không nhìn thẳng vào tâm của mình thì không phân biệt được vọng tưởng và chơn tâm[/B]. Tâm là vọng tưởng còn thật tánh chính là bản thể chơn tâm thanh tịnh có sẵn trong mỗi con người. Nếu thấy và sống với cái thật “Tánh” nầy thì chúng sinh sẽ được kiến tánh tức là giải thoát giác ngộ.Tại sao Tổ Bồ-Đề lại bảo là “giáo ngoại”? Phật giáo có hai phương pháp là “giáo nội “ và “giáo ngoại”. Khi dùng ngôn ngữ để truyền đạo theo khuôn khổ của Phật giáo Ấn Độ thì gọi là giáo nội pháp.[B] Khi bỏ ngôn ngữ mà chỉ lấy Phật tâm để in thẳng vào tâm người khác thì gọi là giáo ngoại pháp. Vậy Thiền là giáo ngoại pháp.[/B]Sau lần yết kiến vua Lương Võ Đế với hy vọng sẽ được nhà vua tận lực giúp đỡ trong việc truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa, nhưng vì nhận thấy căn cơ của vua còn thấp và sự tín ngưỡng của nhà vua chỉ có tánh cách hình thức bề ngoài nên Tổ Bồ-Đề đã từ giã vua đến tu tại chùa Thiếu Lâm ở Trung Sơn.[B] Ngài ngồi xoay mặt vào tường tham thiền nhập định trong chín năm mới trao ấn chứng cho Tổ thứ hai của Thiền tông ở Trung Hoa là ngài Huệ Khả. Huệ Khả truyền cho Tam Tổ Tăng Xán. Rồi đến Tứ Tổ Đạo Tín và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn và sau cùng truyền lại cho Lục Tổ Huệ Năng.[/B]Khi thiền tông hưng khởi tại Trung Hoa, y bát được xem là những biểu tượng thiêng liêng của chánh pháp và là vật truyền thừa tối quan trọng trong thiền môn. Sau khi Tổ Bồ-Đề truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Tổ còn truyền pháp y để xem đó như là bảo vật để minh chứng cho sự truyền thừa từ một Tổ Sư Ấn Độ cho một môn đồ đắc pháp Trung Hoa. [B]Tổ Đạt Ma còn huyền ký rằng sau khi ngài diệt độ khoảng hai trăm năm thì con người lúc ấy biết đạo thì nhiều mà hành đạo thì ít và con người nói lý thì nhiều mà tỏ lý thì ít. Đến thời điểm nầy thì pháp y không còn được truyền thừa nữa.[/B]Vì thế cho nên [B]từ ngài Lục Tổ Huệ Năng về sau, không còn cái lệ truyền y bát nữa và các Tổ cũng không còn ấn chứng riêng cho một vị nào.[/B][B]Truyền thống thiền tông cho rằng pháp y được truyền từ thời Tổ Đạt Ma cho đến thời ngài Huệ Năng chính là tấm y mà Đức Phật đã truyền lại cho tôn giả Đại Ca Diếp, người lãnh hội được yếu chỉ của thiền trên pháp hội Linh Sơn.[/B] Thêm nữa, [B]ngài Thần Hội tại Ấn Độ nói rằng:” Nơi nào có những bậc cao tăng sống đời thanh bạch và nghiêm tịnh thì pháp y không được xem như là ấn tín.[/B] Việc truyền thừa y để ấn chứng chỉ xảy ra ở những nơi có quá nhiều người tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng hay tranh chấp chẳng hạn như ở Trung Hoa”http://lesyminhtung.net/index.php?option=com_content&view=article&id=179:28-vai-net-ve-thien&catid=36:bat-nha-tam-kinh-giang-giai-vo-thuong-niet-ban&Itemid=34

0 people like this

Đoán tính cách

Đoán tính cách qua cách giao tiếp điện thoạiBạn có thường xuyên tắt điện thoại khi đang họp không? Bạn có nhắn tin lúc đang lái xe không? Câu trả lời sẽ bộc lộ một phần con người bạn.Đoán tính cách qua cách giao tiếp điện thoại1. Bạn sử dụng điện thoại trong rạp chiếu phim thế nào?a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd.

Hiếm khie. Chẳng bao giờ2. Khi phải xếp hàng chờ đến lượt, bạn dùng điện thoại ra sao?a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ3. Nếu không thích nói chuyện với một người nào đó, bạn tắt máy khi người đó gọi đến.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ4. Nếu người bên kia đầu dây không nghe thấy tiếng bạn, bạn nói to lên ngay cả khi ở giữa chốn đông người.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ5. Bạn quên tắt chuông điện thoại trong các cuộc họp.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ6. Điệu nhạc trong điện thoại của bạn to, khó nghe đối với tất cả mọi người.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ7. Bạn nhắn tin khi lái xe.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ8. Nếu bạn phát hiện thấy ai đó có vẻ lập dị trên đường, bạn chụp ảnh bằng điện thoại.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ9. Bạn bỏ ngang cuộc chuyện trò để nghe điện thoại.a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờ10. Bạn có hay cãi nhau trên điện thoại không?a. Luôn luônb. Thường xuyênc. Thỉnh thoảngd. Hiếm khie. Chẳng bao giờĐáp án:Đa số câu trả lời là a:Cách sử dụng điện thoại của bạn thực sự khó chịu và làm ảnh hưởng đến những người xung quanh. Bạn nên chú ý hơn đến thái độ của những người xung quanh để điều chỉnh hành động của mình. Có những lúc, bạn còn bật cả loa ngoài khi nội dung câu chuyện đầy tính riêng tư hoặc căng thẳng biến một số người gần bạn thành người nghe bất đắc dĩ. Mọi người quanh bạn mong bạn sẽ không dùng điện thoại nữa hoặc luôn bị mất điện thoại.Đa số câu trả lời là b:Rất nhiều lần, cách sử dụng điện thoại của bạn làm người khác thật bực bội. Đôi khi bạn làm cắt dòng suy nghĩ của người khác hoặc làm họ không thể tiếp tục được câu chuyện vì cách nói chuyện rất “hồn nhiên” và ồn ào của bạn. Tốt nhất nếu phải dùng đến điện thoại ở nơi công cộng, bạn nên đi chỗ khác hoặc nói nhỏ thôi để tránh gây phiền toái cho người khác.Đa số câu trả lời là c:Thường thường, bạn cũng khá lịch sự khi giao tiếp bằng điện thoại. Lúc cần nói chuyện tế nhị, bạn thường ra ngoài hoặc nói rất nhỏ nhẹ để tránh gây phiền toái cho người khác. Tuy nhiên, có đôi lúc, giữa cuộc hội thoại qua điện thoại với nội dung quan trọng hay gay cấn, bạn quên hết cả phép lịch sự và cứ thế tự nhiên nói to, thậm chí cả cãi nhau.Đa số câu trả lời là d:Bạn có phong cách sử dụng điện thoại khá văn minh. Dường như những người xung quanh không biết bạn đang nói gì trong điện thoại. Hoặc khi cần nói to, bạn sẽ ra chỗ ít người. Nói chung, mọi người xung quanh không bị bạn làm phiền. Rất ít khi bạn phạm lỗi “mất lịch sự” hoặc trường hợp bạn thấy mình hơi vô ý, bạn lập tức điều chỉnh mình ngay.Đa số câu trả lời là e:Bạn là người “miễn chê” trong phong cách sử dụng điện thoại. Bạn chẳng bao giờ làm phiền người khác. Những người xung quanh bạn hoàn toàn thấy dễ chịu khi bạn giao tiếp qua điện thoại hoặc là chẳng để ý đến điều đó. Bạn cũng không hề biểu lộ bất kỳ cảm xúc nào sau những cuộc điện thoại. Nếu ai cũng có cách ứng xử văn minh như bạn thì sẽ chẳng có nhiều người bực bội vì bị làm phiền khi người bên cạnh có điện thoại.

0 people like this

Bạn không thích sự thay đổi

Đoán tính bạn qua cách uống biaBạn thích uống bia với lạc rang hay đồ mặn? Sở thích này sẽ bộc lộ đôi nét tính cách của bạn đấy.Đoán tính qua cách uống bia1. Bạn thích uống bia ở đâu?a.Tại một quán bia gần nhà.b. Ở quán rượu.c. Một góc tối của quán bia.d.

Trên tầng 2 của quán bia.e. Tại một bữa tiệc.2. Bạn thích uống bia với:a.Đồ rán.b. Bánh sandwich.c. Lạc rang.d. Hoa quả.e. Đồ mặn.3. Bạn thích uống bia cùng ai?a.Một nhóm người.b. Tùy thuộc vào tâm trạng.c. Đồng nghiệp.d. Những người thích bia rượu.e. Bạn bè.4. Bạn thích loại bia nào?a. Loại nhẹ thôi.b.Mấy loại bia có nguồn gốc từ châu Âu.c. Cứ bia đóng chai là được.d. Bia sản xuất trong nước.e. Bia càng nặng càng ngon.Đáp án:Đa số câu trả lời là a:Bạn thuộc mẫu người thích sự ổn định và ghét sự bốc đồng. Dường như khi vào quán, bạn đã quen gọi món nào thì thường xuyên dùng món đó. Bạn biết đánh giá vai trò của bia trong cuộc sống bởi vậy bạn chỉ dùng một định lượng vừa phải mà thôi.Bạn không thích sự thay đổi nhưng không có nghĩa là bạn không dám mạo hiểm và đương đầu với thử thách, đặc biệt khi có chút men trong người.Bạn có rất nhiều người bạn tốt, cũng thích tụ tập và tìm niềm vui nhưng ở chừng mực nhất định thôi.Đa số câu trả lời là b:Bạn thuộc mẫu người khá lịch thiệp và có lối sống sang trọng. Chỉ tùy nơi mà bạn ngồi uống bia chứ không phải cứ lúc nào thèm là uống.Bạn rất coi trọng hình thức, địa điểm đi và đến. Nhiều người khâm phục bạn và bạn cảm thấy hãnh diện vì điều này.Rất ít khi bạn uống bia một mình. Khi uống bạn thích có bạn bè/đồng nghiệp ở bên cạnh.Đa số câu trả lời là c:Bạn rất hãnh diện về những thành công về vật chất của bản thân mình. Bạn thích những thương hiệu lớn và chuộng đồ có chất lượng cao mà ít khi quan tâm đến giá cả. Trong việc uống bia, bạn cũng lựa chọn khá kỹ càng.Bạn thuộc mẫu người khi đã làm thì làm hết mình và chơi cũng hết mình. Trải qua những khó khăn trong cuộc sống, con người bạn trưởng thành nhanh chóng và thích dùng đồ xịn.Bạn mơ ước càng ngày càng vương giả hơn và được hưởng thụ cuộc sống một cách tốt nhất. Bạn update thông tin rất nhanh và biết khi nào mình nên và không nên xuất hiện.Đa số câu trả lời là d:Bạn là người thẳng thắn và thực tế. Một số người coi bạn là chuẩn mực của mẫu người biết điều, biết mình, biết ta. Bạn nói những gì bạn nghĩ và nghĩ gì thì nói luôn cái đó, không thích sự vòng vo, lắt léo.Bạn thích làm việc chăm chỉ và cũng có cảm tình với những ai tận tâm với chính cuộc sống của mình. Bạn luôn sống với hiện tại và tận hưởng mọi khoảnh khắc của những gì đang diễn ra. Nói chung, bạn là người biết nâng niu và trân trọng những gì đang có.Đa số câu trả lời là e:Bạn dễ tính, giàu năng lượng và khá hướng ngoại. Khi nói về các cuộc tiệc tùng, bạn rất sành sỏi. Khi uống bia vào, bạn luôn thấy cuộc sống tươi đẹp. Uống vài ly bia vào, bạn thấy thật thoải mái và sảng khoái.Bạn rất thích tham gia vào các hoạt động xã hội. Dù là hoạt động nhỏ hay lớn, bạn đều tham gia rất nhiệt tình. Có thể nói, bạn thích uống bia hơn những người khác nhưng không phải là con nghiện đâu nhé. Bạn cũng thuộc tuýp người làm việc có năng suất và thành đạt

0 people like this
Join now to follow GioiDinhHue Nguyen Bao

GioiDinhHue Nguyen Bao

Avatar

http://dharmasite.net ...Read more

Interested In friends, activity_partners
City Other Vietnamese
Favorite Faves Amituofo
School A Mi Đà Phật